Bác sĩ dinh dưỡng

Thừa cân béo phì ở trẻ kéo theo nhiều hệ lụy

Mục Lục

Thực trạng báo động về thừa cân béo phì ở Việt Nam

Tỉ lệ trẻ em thừa cân, béo phì tăng gấp 2,2 lần, từ 8,5% năm 2010 lên thành 19,0% năm 2020, theo kết quả Tổng điều tra Dinh dưỡng toàn quốc 2019 – 2020 của Viện dinh dưỡng quốc gia.

Theo thống kê của Bộ Y tế, riêng năm 2020, tỉ lệ thừa cân béo phì khu vực thành thị đã chạm ngưỡng 26,8%, nông thôn là 18,3% và miền núi là 6,9%. Trước đó, Viện dinh dưỡng quốc gia cũng đã công bố tỉ lệ béo phì ở trẻ em nội thành tại TPHCM đã vượt 50%, tại Hà Nội vượt 41%. Đây là những con số đáng báo động.

Hệ lụy nặng nề

Dễ béo phì khi trưởng thành

Khi “năng lượng vào” vượt quá “năng lượng ra”, năng lượng dư thừa sẽ được dự trữ trong các tế bào mỡ bằng cách tăng số lượng và kích thước. Số lượng tế bào mỡ tăng nhanh nhất trong những năm đầu đời. Khi trưởng thành, số lượng tế bào mỡ có thể tăng bất cứ khi nào cân bằng năng lượng dương. Những người béo phì có số lượng và kích thước tế bào mỡ lớn hơn người bình thường.

Khi “năng lượng vào” nhỏ hơn “năng lượng ra”, tức là khi giảm cân, kích thước của các tế bào mỡ sẽ giảm đi, nhưng số lượng thì không. Những trẻ thừa cân, béo phì có xu hướng tăng cân lại một cách nhanh chóng bằng cách lấp đầy tế bào đã có. Ngược lại, những người có cân nặng bình thường, số lượng tế bào mỡ ít có thể dễ dàng hơn trong việc duy trì cân nặng. Phòng ngừa béo phì là quan trọng nhất, nhất là trong những năm phát triển của thời thơ ấu và thanh thiếu niên, khi các tế bào mỡ đang tăng số lượng.

Khi tăng cân, tế bào mỡ tăng cả kích thước và số lượng. Khi giảm cân, kích thước giảm nhưng số lượng không giảm.

Dễ mắc các bệnh lý khi trưởng thành

Chất béo dư thừa đầu tiên sẽ lấp đầy nơi lưu trữ tự nhiên của cơ thể – mô mỡ. Nếu mỡ vẫn còn nhiều, lượng dư thừa sẽ lắng đọng ở các cơ quan như tim, gan và nội tạng, phá vỡ sự trao đổi chất bình thường và góp phần dẫn đến sự phát triển của các bệnh như suy tim và gan nhiễm mỡ. Chất béo nội tạng, thay đổi trao đổi chất làm tăng nguy cơ bệnh tật – chẳng hạn đề kháng insulin và các viêm mạn tính. Các bệnh cấp và mạn tính có xu hướng diễn tiến nặng hơn, thời gian điều trị kéo dài và tốn kém.

Dậy thì sớm

Vấn đề tăng lượng mỡ dự trữ, tăng BMI và vòng eo ở trẻ thừa cân béo phì làm dậy thì sớm, đặc biệt là ở trẻ nữ. Dậy thì sớm làm thời gian tăng trưởng chiều cao giảm, bé sẽ có chiều cao thấp hơn so với mong đợi.

Ảnh hưởng tâm lý của trẻ

Khi đã bắt đầu nhận thức về hình thể, trẻ thừa cân dễ tự ti và gặp khó khăn trong việc giao tiếp. Trẻ đi học dễ bị bạn bè chọc ghẹo, cô lập, dễ dẫn đến trầm cảm và những hành động tiêu cực đến thể chất, tinh thần.

Chủ động phòng tránh thừa cân, béo phì

Mặc dù hiện nay, nhiều phụ huynh nhận thức được thừa cân béo phì là không tốt nhưng vẫn còn chủ quan và rất ít khi chủ động kiểm tra cân nặng của trẻ định kỳ. Nhiều gia đình Việt vẫn quan niệm “nuôi con bằng mắt”, trẻ phải tròn trịa, đầy đặn thì mới “đạt chuẩn.” Theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, có đến 53% các vị phụ huynh không biết con mình bị thừa cân, hoặc đánh giá thấp hơn một mức so với thực tế. Khi xã hội phát triển, cha mẹ mong muốn con có dinh dưỡng tốt để phát triển não bộ, chiều cao nhưng lại cung cấp thiếu cân đối, thường có xu hướng cho trẻ ăn nhiều hơn nhu cầu cần thiết. Ngoài ra, việc lười vận động, ít ăn cùng gia đình, nạp quá mức thức ăn nhanh, nước ngọt công nghiệp,… cũng là những nguyên nhân gia tăng tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ nhỏ.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng tăng cân thiếu kiểm soát ở trẻ. Trong đó, việc cung cấp dinh dưỡng quá mức và thói quen lười vận động chính là nguyên nhân mấu chốt.

Cha mẹ cần dự phòng thừa cân béo phì cho trẻ ngay từ sớm trẻ ngay từ sớm để giúp con phát triển cân đối, toàn diện và tránh được những hệ lụy sức khỏe khi trưởng thành. Phụ huynh cần theo dõi tiến trình phát triển của con thông qua biểu đồ tăng trưởng, tham chiếu các thước đo để nhận biết ngay nếu con vượt ngưỡng cân nặng và tuyệt đối không thờ ơ trước dấu hiệu thừa cân.